Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Đạo của Trời chỉ là Lý với Khí, hay Dương với Âm, hay Càn Khôn. Còn đạo ở người là ...
-
Dòng sông uốn khúc qua bao thác ghềnh, đón nhận mọi nguồn nước đục trong, nhưng không bao giờ dừng ...
-
Ý NGHĨA THẦN CHÚ ĐẠI BI Thời Phật còn tại thế, ở núi Bồ đà lặc ca, tại đạo tràng Bảo ...
-
Trong môn họa truyền thống của Trung Quốc (thường được gọi là Quốc Họa) ta thường bắt gặp những chủ ...
-
9. TU KỶ 修 己 – ĐÃI NHÂN 待 人 191. Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. Tự hiện ...
-
Xuân nầy cá sẽ hoa rồng, Việt Nam muôn thuở Thăng Long: ý Trời.
-
Đêm ấy trăng sáng, vừa mãn canh ba, bỗng nghe trên không có tiếng kêu lớn: Trả đầu cho ta. ...
-
Quốc sư Vạn Hạnh và PG thời Lý đóng góp vào sự nghiệp hộ quốc an dân TT. Thích Quảng Tùng Phật ...
-
Trong một năm, mùa nào cũng có ý nghĩa, có cái quý, cái đẹp do sự chuyển hóa của thiên ...
-
I. XUẤT XỨ CÂU KINH II.TÌM HIỂU Ý NGHĨA 1. Chữ Hiệp 2. Chữ Thành 3. Chữ Tín III. KẾT LUẬN
-
Tại Việt Nam, bản kinh này xuất hiện trong một đàn cơ ở Thiên Thơ Đài (Phước Hải, tỉnh Bà ...
-
Tỳ Thổ /
Dưỡng sinh và Đạo pháp là những hành trang rất quan trọng cho người cầu tu giải thoát. Các môn ...
Nhịp cầu giáo lý
Bài viết được cập nhật lần cuối vào ngày 30/12/2009
Quan Âm Tự (Phú Quốc)
, hơn các chùa khác về vẻ thanh vắng, u tịch. Thi sĩ Đông Hồ [2] Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906 - 1969) là một nhà thơ đất Hà Tiên. Ông đã có công sưu tầm, dịch và giới thiệu thơ của Tao Đàn Chiêu Anh Các (do Mạc Thiên Tích (1706 - 1780) sáng lập rằm tháng Giêng Bính Thìn - 1736). Ông Lâm Tấn Phác có người cô ruột tên Lâm Thị Đào Hoa, là vợ sau ông Huỳnh Kim Chung (nêu bên trên). Bài báo "Thăm đảo Phú Quốc" này đăng trong Nam Phong tạp chí số 124 – 1927 - Trang 545trong dịp viếng chùa Quan Âm ngày 15-12-1927 có tả như sau: "Chùa cất trên tuyệt đỉnh, trước mặt thì có núi cao bình án, sau lưng thì có biển rộng hoành triều, rất được thế non thế nước. Tường đá rào tre quanh co, các thứ nhàn hoa cổ thụ u ảo thanh tĩnh vô cùng".
Quan Âm Đường đầu tiên do hai ông Huỳnh Kim Chung (Đạo danh Huỳnh Đăng Khoa) và ông Đỗ Minh Châu tạo lập. Khi nhị vị qua đời, con ông Đỗ Minh Châu là Đỗ Kim Cự kế tục. Sau, ông Cự giao cho ông Đỗ Văn Đồ (thường gọi là Tám Gia) trông nom chùa, ông này tánh khí thất thường, thô lỗ. Năm 1921, ông Tám Gia gây trở ngại, việc học đạo của Ngài Ngô Văn Chiêu phải dời xuống Sùng Hưng
Tự bên cạnh, dưới chân núi Dương Đông. Từ đó Quan Âm Tự suy sụp dần, sau rồi không còn ai trông coi, bị hoang phế, hủy hoại.
Đến năm 1961, một số đệ tử phái Chiếu Minh gồm quý ông: Nguyễn Văn Truyện, Bùi Thiện Hùng, Trần Minh Trí... tìm được vết tích Quan Âm Tự. Ban Trị Sự đứng tên mướn lô công thổ số 129 này bằng giao kèo ngày 6-12-1961, sau đó xây cất lại trên nền chùa cũ ngôi Cao Đài Hội Thánh, khuôn viên nền và bệ thờ giữ đúng theo vị trí của chùa xưa.
Chú thích :
[Chú thích hình] Ảnh chụp Cao Đài Hội Thánh cất trên vị trí nền Quan Âm Tự cũ. Địa chỉ hiện nay thuộc khu phố 1, thị trấn Dương Đông.
