Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Trước hết, chúng ta có thể mạnh dạn khẳng định thực tế “đa dạng tôn giáo ở Việt Nam”. Những công trình nghiên cứu bối cảnh tôn giáo lịch đại và đương tại ở cả ba Miền Nam Trung Bắc Việt Nam, và qua đề tài này cho phép chúng ta phát biểu như trên.
    _ Nhất là ở Nam Bộ, các nghiên cứu tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo, Phật giáo Tiểu thừa-Khờme, Thiên Chúa giáo, Tin Lành . . . và Cao Đài cho thấy rất rõ nét tính đa dạng tôn giáo ngay tại miền này .


  • Chu lễ và Thánh Chu Công / Trần Ngọc Tâm

    Những ai học Dịch đều hiểu rõ và nhớ ơn các
    Thánh – Phục Hy, Văn Vương, Chu Công
    Đán và Đức Khổng Tử. Đây là Tứ Thánh đã có
    công chế tác, san định và hoàn chỉnh bộ Thiên
    thơ Kinh Dịch cách đây mấy ngàn năm, và cho
    đến ngày nay vẫn được hậu thế tiếp tục học hỏi,
    nghiên cứu để áp dụng theo những lời dạy của
    các Thánh xưa trong bộ Kỳ Thư Bảo Điển này.
    Tài liệu viết về Đức Chu Công rất hạn chế –
    chỉ có trong quyển Luận Ngữ và Trung Dung ở
    chương 19. Nhưng không vì vậy mà chúng ta sẽ
    không tìm hiểu được thân thế và công đức to
    lớn của ngài. Bài viết sau đây để chúng ta tìm
    hiểu Lễ đời nhà Chu.


  • I have a dream that one day on the red hills of Georgia, the sons of former slaves and the sons of former slave owners will be able to sit down together at the table of brotherhood


  • “Xuân, xuân đến, muôn phần nô nức,
    Xuân là chi vạn vật đón chờ?
    Xuân về có rượu có thơ,
    Có câu chúc tụng, có giờ nghỉ ngơi…” (1)
    Cứ mỗi độ xuân về, nhân thế lại rộn ràng đón xuân. Chẳng mấy ai thắc mắc rằng xuân là gì mà mình phải đón. Dù giàu hay nghèo, nhà nào cũng đón, đón một cách tự nguyện, chân thành, thiết tha, nồng nhiệt. Thế nhưng, “xuân là chi vạn vật đón chờ?”
    Nếu hiểu được bản chất của xuân thì không chỉ đón xuân và thưởng xuân, chúng ta còn có thể tạo ra được một mùa xuân mà nhà nhà đều mong đợi: mùa xuân trong thế nhân hòa.


  • THỜI KỲ MẠT PHÁP / Thư viện Hoa sen

    Thời kỳ mạt pháp là thời kỳ được bắt đầu từ sau khi đức Phật nhập niết bàn 1500 năm, được khái lược trong ba điều trọng yếu: Có giáo lý, không hành trì, không quả chứng.

    Chư Tổ sư giảng về điều này như sau: Thời mạt pháp chẳng phải là không có người hành trì. Song kẻ hành trì đúng theo giáo lý rất ít, hầu như không có, nên mới gọi là không hành trì. Mà bởi hành trì không đúng nên không có người chứng đạo. Bởi thế nên chư Tổ thường than: “Người học đạo nhiều như lông Trâu, người đắc đạo như sừng Thỏ.”


  • Lược sử Chiếu Minh / Phan Lương Minh

    Đầu năm Bính Dần 1926, Đức Ngô Minh Chiêu  trao thánh lịnh cho ngài Hồ Vinh Qui  đem đàn cơ xuống Cần Thơ mở Đạo. Ông Hồ Vinh Qui tự Trọng Quí, Thiên ân pháp danh (nay thường gọi là Thánh danh) :  Từ Huệ,  là cựu thông phán. Vừa đến Cần Thơ ông gặp ngay cụ Nguyễn Như Bích. Vốn  từng quen  cầu cơ từ thuở còn  ở Hà Tiên, nên cụ Bích sẵn  lòng tiếp ông Phán Quí lập đàn cơ tại nhà mình. Song vì thân phụ cụ Bích  là cụ Nguyễn Thần  Hiến  là một chí sĩ  của phong trào Đông Du  vào  những năm đầu thế kỷ,  nay lập đàn có nhiều người tới lui đông đảo, e rằng Pháp để ý, ông Phán Quí phải dời đàn cơ đến  nhà một gia đình mới quen qua các buổi càu đàn  - ông  bà Nguyễn Văn Huỳnh. Khi ngày lành tháng tốt, cứ năm ba người tụ nhau lại nơi các nhà Đàn, cầu Thần Tiên cho kinh kệ rồi dạy lần ra cho nhau.  Trong thời gian ngắn có hàng trăm người theo Đạo. Từ đó mở thêm đàn  tại gia Ông Nguyễn Thiện Niệm, ông Tám Tỵ. 


  • Tiểu sử Ngài Trần Đạo Quang / Trích quyển Sử Đạo

    NGÀI TRẦN THANH NHÀN (Thái Lão Sư TRẦN ĐẠO QUANG) (1870 - 1946)

    Ngài Trần Đạo Quang tên tục là Trần Thanh Nhàn, sinh giờ Dần ngày 10-11-Canh Ngọ  (31-12-1870) tại Ban Dầy, quận Cai Lậy, tỉnh  Định Tường.  Ngài là con trai duy nhất (thứ năm) của cụ ông Trần Chí Hiếu và cụ bà Dương Mỹ Hậu.  Ông bà làm nghề nông, tu theo phái Phổ Tế (Minh Sư).


  • Nhắp chén trà sen vị ngạt ngào,
    Hương xuân nồng ấm thú tiêu dao,
    Kìa hoa hoa nở vì ai đó,
    Theo luật sinh tồn Đấng tối cao.


  • TỔNG QUAN VỀ Ý THỨC HỆ CAO ĐÀI


    1. Định nghĩa

    1.1. Ý thức hệ

    Con người là những cá thể và quần thể sống có suy nghĩ, có tư duy. Sự suy nghĩ hay tư duy giúp cho con người có tư tưởng.

    Giữa tư tưởng và ý thức có một mối liên hệ mật thiết. Đức Đông Phương Chưởng Quản đã dạy:

    “Tư tưởng là gồm những ý thức trưởng thành để linh động hóa tiềm năng vô cùng của con người.”[1]

    Những tư tưởng dẫn dắt nếp sống, đường lối hành động của con người, vạch ra mục đích cuối cùng của một tập thể, một dân tộc hay nhiều dân tộc gọi là “Ý thức hệ” (Ideology).

    Trong “The American Heritage Illustrated Encyclopedic Dictionary”, ý thức hệ được định nghĩa:

    “Ý thức hệ là phần trọng tâm hay chính yếu của tư tưởng, phản ảnh các nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân, tập thể hay một nền văn hóa.”

    “Ý thức hệ là một hệ thống học thuyết hay tín ngưỡng làm nền tảng cho một hệ thống chính trị, kinh tế hay các hệ thống khác.”[2]


  • CHƯƠNG THỨ HAI
    NGUYÊN NHÂN ĐỨCTHƯỢNG ĐẾ KHAI ĐẠO TẠI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
    PHÁP MÔN TAM CÔNG
    SỨ MẠNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
    MỤC ĐÍCH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
    TÍNH DÂN TỘC CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
    THIÊN NHÂN HIỆP NHẤT


  • Bài Thuyết đạo tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo


    ngày 19-6-Đinh Hợi (01-8-2007)


    ________


    [Ảnh bên: Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn tại Linh Sơn Cổ Tự, đường Cô Giang, Q1, TP.HCM-Dưới tựong có xưng danh hiệu Ngài: "Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thị Hiện Thiên Thủ Thiên Nhãn Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát"]


    * * *

    Hôm nay là 19 tháng 6 âm lịch, kỷ niệm  ngày thành đạo của đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát rất gần gủi với đời sống tâm linh của các dân tộc Châu Á nói chung như Ấn Độ, Tiểu Á, Tây Tạng, Trung Quốc, Triều Tiên,  Nhật Bản, Kampuchia…Riêng Việt Nam đã biết đến oai lực của Ngài từ thuở bình minh của dân tộc. Ngài là một vị Bồ Tát đã đắc quả từ lâu nhưng không nhập Niết Bàn, vẫn qua lại nơi cỏi ta bà để cứu độ chúng sanh vơi 12 lời đại nguyện


  • Mùa Trung Nguơn tháng 7 năm Quý Tỵ 1953, tại Thánh tịnh Tam Thanh – Cao Minh Quang ở Long An, Ơn Trên dạy thực hiện ba ngày đại lễ cầu siêu Chơn Giác Đồng Đăng Thiên Hoa Đài Vị từ ngày rằm cho đến giờ Ngọ ngày 17.

    Vào ngày Rằm Trung Nguơn tháng 7, một nghi thức vớt vong đã được thực hiện với một chiếc ghe lớn được chèo từ Thánh tịnh ra sông Vàm Cỏ rồi trở lại. Trên ghe, một bàn hương án được thiết kế với bài vị "Cô hồn uổng tử" và lễ phẩm đầy đủ, các chức sắc chức việc cùng ban lễ thực hiện nghi thức "dẫn vong" về nơi đại hội Đồng Đăng Chơn Giác.

    Theo sắc lệnh đã tiếp nhận, vào 9 giờ đêm hôm sau, 5 ban cơ đã được thiết lập trong cùng một lúc để đón nhận sự ban ơn của Thiêng Liêng.














    Tà thần thấy người đang dục vọng,
    Đã tu hành còn mộng mị huyền,
    Thừa cơ khuyến dụ rủ ren,
    Thiêu thân đành phải vì đèn lụy thân.

    Đức Quan Âm Bồ Tát, Liên Hoa Cửu Cung, 03-01 Ất Tỵ, 04-02-1965

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây