Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi / Ban Quản Lý Tổ Đình Chiếu Minh TTVV

    Tại Thảo Lư: Thánh Đức Tổ Đình. Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh Vô vi
    Ngày 15/10 Mậu Tý, nhằm ngày 11/11/2008 Ban Quản Lý Thánh Đức Tổ Đình cử hành lễ an vị Pho Tượng Đức Thầy Trở lại thời gian từ ngày 13/3 năm 1932 Đức Tôn Sư Ngô Minh Chiêu qui liễu đến nay tròn 77 năm.
    Cũng tại nơi đây Bổn đạo Cao Đài, cử hành tang lễ kim thân đức thầy nhập tháp tại Chiếu Minh Nghĩa Địa. Kể từ đó đến nay 76 năm chưa có đúc tượng chân dung để an vị.

    - Vì lúc xưa nơi Thảo Lư chỉ làm bằng cây lợp lá đơn sơ để Đức Thầy tạm nghĩ dưỡng bệnh, lúc bấy giờ Đức thầy dạy dùng viết ghi trên vãi để chép những bài thánh giáo giữ y qui cũ khai Đạo kỳ ba do Đức Thầy truyền dạy trong thế kỹ 20.
    - Chính nơi Thảo Lư Đức Thầy đã ra đi về Tân An và Qui tiên sau khi qua phà Cần Thơ và giữa dòng sông Cửu Long phà Mỹ Thuận. Qua thiên lệnh của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế:

    "Giờ này thầy điểm thâm công
    Ngày sau, con sẽ cởi rồng về nguyên "


  • Nếu có dịp chứng kiến đại lễ Khai Minh Đại Đạo vào năm Bính Dần 1926, có lẽ đại đa số nhân loại đều cho rằng đó là sự ra đời của một tôn giáo. Không ít tín đồ Cao Đài cũng nghĩ rằng đó là lễ ra mắt tôn giáo Cao Đài trước nhân sanh.
    Nhưng tại sao, trong toàn Đạo – từ các đấng Thiêng Liêng cho đến con người – ngày lễ này lại được gọi là “Khai Minh Đại Đạo” (hay ngắn gọn hơn, “Khai Đạo”), chứ không gọi là “Khai Minh Cao Đài”?
    Đức Vạn Hạnh Thiền Sư đã dạy:
    “Người vẫn tưởng Cao Đài - tôn giáo,
    Nào hay đâu Đại Đạo hoằng dương.” (1)


  • Bà Năm vừa đốt ba cây nhang khấn vái xong thì ông Năm về liền, cho biết rằng ông đang tịnh luyện ở non thần và khuyên bà cũng phải lo tu. Rồi ông giải thích cho bà hiểu tu nghĩa là tu tâm sửa tánh, trau dồi đức hạnh, làm lành lánh dữ, giúp đỡ người nghèo khổ chứ không phải vô chùa xuống tóc, mặc áo cà sa mới gọi rằng tu.


  • Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ / Đạt Thông Dương Văn Ngừa

    Trong bài DI LẠC CHƠN KINH mà người tín đồ Cao Đài thường tụng đọc vào các ngày rằm lớn, hay khi cầu siêu cho các vong linh quá vảng. Bài Kinh nầy do Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết giảng, có một đoạn như sau: ... " Nhược hữu chúng sanh văn Ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ, tất đắc giải thoát luân hồi, đắc lộ Đa-la Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề thị chi chứng quả Niết Bàn."... Có nghĩa là : Nếu như có ai nghe biết lời nói của Ta, thì tự nhiên thoát khỏi các nghiệp ác, hãy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, nhìn nhận và tùng theo Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ, ắt được giải thoát khỏi luân hồi đồng thời đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ấy là chứng được quả vị nơi Cực Lạc Niết Bàn .


  • Qua một kiếp Ngài giáng trần bên Trung Quốc dưới triều đại nhà Đường, Ngài đã để lại cho hậu thế một gia tài với khoảng 20.000 bài thơ. Ngài đã được tôn vinh là một trong những đại thi hào tài hoa của phương Đông
    CON NGƯỜI MUÔN THUỞ MUÔN PHƯƠNG
    Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ), Tam Trấn Oai Nghiêm, đại diện Tam Giáo Đạo, thay mặt Đức Chí Tôn nắm giềng mối cơ Đạo Kỳ Ba, tận độ nhân loại:
    Tam Kỳ Phổ Độ cõi Nam Thiên,
    Tam Trấn Oai Nghiêm nắm mối giềng,
    Thay mặt Chí Tôn truyền đạo pháp,
    Dắt người trở lại cõi Tiên Thiên.
    Lý Đại Tiên Trưởng Thái Bạch Kim Tinh với cương vị Nhứt Trấn Oai Nghiêm đại diện Tiên giáo, Ngài được Đức Chí Tôn giao quyền thủ cơ truyền Đạo, lập luật pháp Đạo, ra các Đạo Nghị Định, Chơn truyền chấp chưởng điều hành, thưởng phạt tín đồ, chức sắc trong Đạo. Ngài cũng kiêm nhiệm vai trò quyền pháp Giáo Tông Vô Vi ĐĐTKPĐ, là Anh Cả, dẫn dắt tín đồ trong Đạo.


  • Đức Vạn Hạnh Thiền Sư dạy :
    “......Tôn giáo là những khuôn vàng thước ngọc để khép con người từ chỗ sa đọa trở nên hiền Thánh Tiên Phật, ung đúc con người từ chỗ trọng trược lòng trần được thanh thoát cao siêu. Tôn giáo là mối dây liên quan, là cửa thông đồng cho vạn dân chủng tộc........”
    “Hỡi những ai là người thức tri thời vụ, ai là người đang đi trên đường đạo học, ai muốn tìm chỗ uyên thâm của đạo lý, ai muốn thoát khỏi cảnh ràng buộc trí não tâm linh giữa cõi đời hỗn loạn này, hãy tự tin, tự giác, để tìm hiểu nguyên nhân nào đưa con người vào hoàn cảnh tối tăm loạn lạc nầy. Có tìm thấy mới biết quay về với nhân bản, với bản tính chất thuần lương mà từ thuở sơ sinh đã có hằng hữu Thượng Đế giáng trung”.


  • Sống tự nhiên / Đức Vô Cực Từ Tôn

    Các con tu luyện là để biết sống cái sống chơn thường tự nhiên tự tại của các con. Sanh vào cõi đời là phải sống bằng hậu thiên khí chất, sống bằng mọi sinh hoạt tương đồng. Nếu tương đồng mà không bị hòa đồng thì sẽ tiến hóa rất mau. Từ phàm phu nhục thể biết hòa hợp tiên, hậu nhị thiên thì tiến lên thánh thể, kim thân, phật thân không phải khó. Đã có đạo là phương tiện, phương pháp duy nhất để quay về nguồn gốc bổn lai, khốn nỗi khi vào trường tiến hóa này các con phải trải qua các lớp huấn luyện từ giáo dục thai bào cho đến tập quán gia đình xã hội cũng làm ảnh hưởng liên hệ lớn lao cho công cuộc tiến hóa của linh căn. Khi bắt đầu ô nhiễm trược chất lấp tràn, dầu những linh căn sứ mạng cũng mang ít nhiều ô nhiễm, sau mới giác ngộ vượt qua. Thế nên muốn cứu cánh một thân cũng là phải biết bao công quả, công trình, công phu tu luyện, huống hồ muốn có một cõi đời thánh đức cho nhân loại an hưởng thái bình cũng phải là những công quả công trình công phu to tát hơn tự mỗi cá thể, cộng đồng chứng ngộ mới kết quả.


  • Trung Quốc / Wikipedia Tiếng Việt

    Vạn lý trường thành dài hơn 6700 km, bắt đầu được xây dựng vào đầu thế kỷ 3 TCNđể ngăn quân "du mục" từ phương Bắc, và cũng đã được xây lại nhiều lần. (hình bên)

    Trung Quốc (Hoa phồn thể: 中國; Hoa giản thể: 中国; Hán Việt: Trung Quốc; bính âm: Zhōngguó; Wade-Giles: Chung-kuo; phát âm (trợ giúp·chi tiết)) là tổng hợp của nhiều quốc gia và nền văn hóa đã từng tồn tại và nối tiếp nhau tại Đông Álục địa, cách đây ít nhất 3.500 năm. Trung Quốc ngày nay, có thể được coi như có một hay nhiều nền văn minhkhác nhau, nằm trên một hay nhiều quốc giakhác nhau, sử dụng một hay nhiều ngôn ngữ khác nhau.


  • III. NGUYÊN LÝ ĐẠI THỪA CỦA ĐẠO PHÁP ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.

    Hội ý qui luật “ Châu nhi phục thỉ” của cơ chế sinh thành trong vũ trụ qui luận “huờn nguyên chơn thần” của cuộc tiến hóa tâm linh cùng với phương định “chuyển vô thường giả tạm vào siêu nhiên bất diệt” của Quyền pháp “ chúng ta có nguyên lý Đại Thừa trong Đạo pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

    Nguyên lý Đại Thừa được Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thực hiện qua tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, ngũ chi phục nhất” trên phương diện cương lĩnh của giáo thuyết và qua sứ mạng phụng hành Thiên Đạo cho công cuộc giải thoát phổ độ nhân sinh.


  • Thời đại ngày nay, sự phân hóa tư tưởng loài người đã cùng cực; lòng tự tôn ngã mạn khiến cho người ta tự cho tư tưởng mình là chân lý tối thượng, làm cho thế nhân bị lầm lạc hoặc hoang mang không biết đâu là lý tưởng của kiếp người. Đức Thượng Đế bèn khai Tam Kỳ Phổ Độ để soi rọi Chân lý đích thực. Đó là Đạo. Đạo không phải là đạo này đạo nọ. Đạo là luật tiến hóa, là luật nhân quả, là sự sống tự nhiên của muôn loài.


  • Trong quá trình phát triển theo thời gian, hầu như không có tôn giáo nào thoát khỏi tệ nạn phân hóa. Tuy nhiên, có tôn giáo phân hóa trong hòa bình, như đạo Phật chẳng hạn cũng có sự phân hoá nhưng không có sự cực đoan (Đại Thừa, Tiểu Thừa Nam Tông Bắc Tông không bao giờ chém giết nhau). Trái lại, hầu hết các đạo độc thần đã đi đến sự phân hóa sau các cuộc xung đột gay gắt và luôn luôn kéo theo các cuộc "thánh chiến" đẫm máu trong nhiều thế kỷ. Điển hình là sự phân hóa củaThiên chúa Giáo La Mã:Thiên chúa Giáo Đông Âu tách rời năm 1052 để biến thành Chính Thống Giáo, Công Giáo Anh ly khai trong thế kỷ 16 biến thành Anh Giáo và phong trào cải cách tôn giáo do Luther khởi xướng vào đầu thế kỷ 16 cũng đưa đến sự ly khai khỏi Thiên chúa Giáo La Mã để hình thành các giáo phái Tin Lành. Tất cả các tôn giáo và giáo phái ly khai đều bị Thiên chúa Giáo dùng sức mạnh quân sự đàn áp trong máu lửa.


  • Chúng ta đều nhìn nhận rằng con người đã và đang tiến hóa, kể từ thuở là con người tinh khôn (homo sapiens) của Đệ Tứ Nguyên Đại. Cuộc tiến hóa ấy có định hướng chăng? Nếu có, ta khoan nói về cái viễn đích (telefinal) xa xôi ấy, mà hãy tạm nhận thấy về cơ bản đó là con vật, một con vật thượng đẳng biết tư duy mà người Đông Phương chúng ta mệnh danh là «linh ư vạn vật». Con vật ấy có tính xã hội, và vì vậy trong cuộc cộng sinh, con vật ấy đã biết thích ứng với nhau, biết chế ngự bản năng cầm thú, để được tiến hóa thành con người văn minh hiện nay. Thế nhưng con người thực sự đã thuần hóa được cái con thú man rợ luôn chực nhe răng gầm gừ trong cõi lòng mình không?














    Dưỡng dục quần sanh đức hiếu sanh,
    Khai Minh Đại Đạo, Đạo tài thành,
    Tam Kỳ tận độ an thiên hạ,
    Thánh đức âu ca hưởng phước lành.

    Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, CQPTGL, Rằm tháng 10 Quý Sửu

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây